Gói thầu mua sắm than gần 2000 tỷ tại Nhiệt điện Vĩnh Tân 4: EVN bị “tố” lựa chọn nhà thầu giả mạo hồ sơ năng lực
Thứ Sáu, 27/03/2020 13:32

EVN vừa công bố kết quả lựa chọn nhà thầu Gói thầu NH2020-VT01: Cung cấp than nhập khẩu ngắn hạn phục vụ than nhập khẩu thương mại cụm NMĐ Vĩnh Tân 4, với trị giá lên tới gần 2000 tỷ đồng. Điều đáng nói, đơn vị trúng thầu NRI bị tố thua lỗ triền miên, đang đứng bên bờ vực phá sản .

Được biết, đây là gói thầu rất quan trọng, nhập khẩu 1,2 triệu tấn than để có nguồn nguyên liệu sản xuất cung ứng điện cho khu vực miền Nam.

goi-thau-mua-sam-than-w1024-h724.jpg

Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 4

Theo đó, gói thầu NH2020-VT01: Cung cấp than nhập khẩu ngắn hạn phục vụ than nhập khẩu thương mại cụm NMĐ Vĩnh Tân 4 sử dụng nguồn vốn sản xuất kinh doanh của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), hình thức lựa chọn nhà thầu là đấu thầu cạnh tranh có lựa chọn danh sách ngắn, theo phương thức 1 giai đoạn 2 túi hồ sơ. Hình thức hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh. Thời gian bắt đầu mời thầu từ 3/1/2020, đóng thầu ngày 13/1/2020.

Gói thầu NH2020-VT01 được EVN triển khai các thủ tục mua sắm và ký kết hợp đồng vào tháng 1/2020 để cung ứng than cho nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân từ tháng 2/2020.

Việc mua sắm được thực hiện thông qua hình thức đấu thầu cạnh tranh quốc tế, có sự tham gia của 04 nhà thầu bao gồm: Nhà thầu Noble Resources International Pte. Ltd (nhà thầu Singapore), Suek AG, Glencore International AG, Tổng Công ty Đông Bắc (Nhà thầu Việt Nam).

Nhà thầu Noble Resources International Pte Ltd (NRI) là nhà thầu có giá chào thấp nhất nên đã được trao thầu. Tuy nhiên giá trúng thầu gói thầu khủng này không hiểu vì lý do gì không được EVN công khai.

Theo đánh giá của EVN, để đảm bảo năng lực tài chính nhằm thực hiện gói thầu, NH2020-VT01, NRI đã chứng minh khả năng thực hiện hợp đồng thông qua cam kết tín dụng của Ngân hàng quốc tế uy tín với khoản vay cho riêng gói thầu với giá trị cao hơn khoảng 40% giá trị hợp đồng; tăng mức bảo lãnh thực hiện hợp đồng lên gấp đôi so với quy định của EVN.

Tuy nhiên thực tế báo cáo tài chính của nhà thầu trúng thầu NRI lại vẽ lên một bức tranh hoàn toàn u ám.

Theo tố cáo, tại Báo cáo tài chính năm 2017 của Nhà thầu NRI đã được kiểm toán thì Kiểm toán độc lập đã đưa ra nhận xét: “Tổng nợ phải trả của Công ty đã vượt quá tổng tài sản là  2.314 triệu đô la Mỹ” đồng thời dẫn đến tình trạng “có thể gây nghi ngờ đáng kể về khả năng tiếp tục hoạt động của Công ty”.

Theo mục C, Khoản 1, Điều 5, Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 quy định nhà thầu, nhà đầu tư là tổ chức có tư cách hợp lệ khi đáp ứng điều kiện sau đây:“Không đang trong quá trình giải thể; không bị kết luận đang lâm vào tình trạng phá sản hoặc nợ không có khả năng chi trả …”.

Tại khoản 3 mục II-Phần II hồ sơ mời thầu gói thầu NH2020-VT01 của EVN cũng quy định “Nhà thầu tham dự không trong quá trình giải thể, không bị phá sản và không phát sinh nợ xấu theo quy định của pháp luật”.

0e453e3b-f2ca-4995-aa42-7e2895ed251b-w686-h504.png

Liệu EVN có đúng khi chọn NRI là nhà thầu cho dự án siêu khủng này

Như vậy, đối chiếu với quy định của Luật Đấu thầu và yêu cầu Hồ sơ mời thầu của EVN, Nhà thầu NRI đã không đủ tư cách hợp lệ để tham dự gói thầu NH2020-VT01.

Vẫn theo Báo cáo tài chính năm 2017 của Nhà thầu NRI đã được kiểm toán thì giá trị tài sản ròng = Tổng tài sản – Tổng nợ = 1.788.863 – 4.102.963 = - 2.314.100 USD (Âm hai tỷ ba trăm mười bốn triệu một trăm nghìn đô).

Trong khi đó, theo yêu cầu tại Khoản 3.1 – Mục 3. Năng lực tài chính của Hồ sơ mời thầu yêu cầu: giá trị tài sản tại báo cáo tài chính gần nhất (năm 2017) của nhà thầu phải “Dương”. 

Với kết quả tài chính năm 2017 bị âm, Nhà thầu NRI đã không đáp ứng được yêu cầu về năng lực tài chính tại gói thầu NH2020-VT01 và nhà thầu này phải được đánh giá không đáp ứng theo quy định tại HSMST.

Một điểm đáng chú ý nữa, NRI gần như mất hết khả năng thanh toán khi Uỷ ban chứng khoán Singapore cấm Tập đoàn Noble Group (công ty mẹ) tái cấu trúc, và không đồng ý cho đổi tên thành New Noble. Việc Tập đoàn Noble Group và công ty con NRI cùng lỗ khoản tiền rất lớn trên 4,9 tỷ USD đang làm rúng động thị trường chứng khoán Singapore và buộc phải tái cấu trúc theo yêu cầu của chủ nợ là các ngân hàng.

Rõ ràng, NRI đang vi phạm nghiêm trọng luật đấu thầu quốc tế khi vướng vào rất nhiều chuyện lùm xùm liên quan đến tài chính. Tại Điểm c, Khoản 1, Điều 5 Luật Đấu thầu quy định: Một trong những điều kiện về tư cách hợp lệ mà nhà thầu phải đáp ứng là không đang trong quá trình giải thể; không bị kết luận đang lâm vào tình trạng phá sản hoặc nợ không có khả năng chi trả theo quy định của pháp luật. Đây cũng là những điều mà nhà thầu phải cam kết trong hồ sơ đấu thầu.

Không hiểu NRI đã cung cấp cho EVN báo cáo tài chính như thế nào để tập đoàn EVN có thể chấp nhận tư cách hợp lệ cho NRI trúng thầu. Liệu có hay không tình trạng giả mạo hồ sơ dự thầu?.

Năng lực cung cấp, các hợp đồng tương tự của NRI kê khai ra sao khi tham dự Gói thầu NH2020-VT01: Cung cấp than nhập khấu ngắn hạn phục vụ than nhập khẩu thương mại cụm NMĐ Vĩnh Tân 4?.

Có một thực tế, những tin xấu về NRI không phải không xuất hiện trên báo chí, vậy có hay không Tập đoàn ENV đã nắm được thông tin này nhưng vẫn cố tình “không hay” để ký hợp đồng hợp tác với NRI?.

Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 4 là một trong những dự án cấp bách góp phần giải quyết tình trạng thiếu điện cho miền Nam sau năm 2018 của Chính phủ do EVN làm chủ đầu tư, Tổng công ty Phát điện 3 (EVNGENCO 3) thực hiện tư vấn quản lý Dự án với đại diện là Ban Quản lý Dự án Nhiệt điện Vĩnh Tân. Nhà máy có tổng mức đầu tư trên 36.000 tỷ đồng, tổng công suất lắp đặt 1.200 MW (2x600MW), sản lượng điện sản xuất khoảng 7,2 tỷ kWh/năm.

Công lý & xã hội sẽ tiếp tục thông tin vụ việc đến bạn đọc.

Quang Minh
Tag: EVN; Vĩnh Tân 4; NRI; đấu thầu
Tiêu điểm Lãnh đạo tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã từng “quan tâm” thế nào tới khu đất dự án “ma” Hồ Tràm Revierside Lãnh đạo tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã từng “quan tâm” thế nào tới khu đất dự án “ma” Hồ Tràm Revierside Quảng Trị: Bán đấu giá trụ sở khi đã có lệnh dừng gây thất thoát tài sản, trách nhiệm thuộc về ai? Quảng Trị: Bán đấu giá trụ sở khi đã có lệnh dừng gây thất thoát tài sản, trách nhiệm thuộc về ai?